Tài nguyên dạy học

TRANG VIOLIMPIC

vuthaison

Email THCS Quảng Ngãi Cát Tiên

SỔ LIÊN LẠC ĐIỆN TỬ (VNPT - SCHOL)

vuthaison

Liên kết Websiter

Lịch vạn niên

Ảnh ngẫu nhiên

Dự báo thời tiết

Hà Nội Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi Thành Phố Hồ Chí Minh Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh

Hỗ trợ trực tuyến

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • TRANG THƯ VIỆN CỦA TRƯỜNG THCS QUẢNG NGÃI - CÁT TIÊN - LÂM ĐỒNG

    CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11

    Tài liệu chuyên đề giáo dục kỹ năng sống

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lưu Thị Lạng
    Ngày gửi: 15h:33' 20-09-2013
    Dung lượng: 290.6 KB
    Số lượt tải: 220
    Số lượt thích: 0 người
    CHUYÊN ĐỀ
    TỔ CHỨC GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
    CHO HỌC SINH THCS
    Trong chuyên mục GÓC NHÌN của báo THẾ GIỚI MỚI (Số 852 ra ngày 21/09/2009), nhà báo Nam Tiến – trong bài THỜI ĐẠI CỦA KINH TẾ DỰA VÀO KĨ NĂNG đã viết:
    “Năm 1996, Uỷ ban quốc tế về giáo dục của UNESCO đưa ra một báo cáo nhấn mạnh tầm nhìn của giáo dục cho TK 21 dựa trên bốn trụ cột: học để biết; học để làm; học để tự khẳng định mình; học để cùng chung sống. Gần 10 năm đầu của TK 21 đã trôi qua, trường học của chúng ta vẫn nặng về “Học để biết”, loay hoay với “Học để làm” và đang “mịt mù” với 2 trụ cột còn lại. “Kiến thức” vẫn là yếu tố ngự trị gần như tuyệt đối trong chương trình giảng dạy và cách thức đánh giá người học. Trong khi đó, một thực tế ai cũng thừa nhận là ngoài kĩ năng chuyên môn (để làm một công việc cụ thể như: giáo viên, bác sĩ, lái xe…) thì kĩ năng sống (giao tiếp, ứng xử, giải quyết xung đột, hợp tác…) ngày càng đóng vai trò quan trọng. Thậm chí Ngân hàng Thế giới đã gọi: Thế kỉ 21 là thời kỳ của kinh tế dựa vào kỹ năng.
    Các nhà khoa học thế giới khẳng định: để thành đạt trong cuộc sống, kĩ năng mềm (trí tuệ cảm xúc) chiếm 85%; kĩ năng cứng (trí tuệ logic) chỉ chiếm 15%”.
    Còn tại Diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người (ở Senegan năm 2000) đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó:
    - Mục tiêu thứ 3 là: “Mỗi quốc gia phải bảo đảm cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục KNS phù hợp”.
    - Mục tiêu 6 yêu cầu: “Khi đánh giá chất lượng giáo dục cần phải đánh giá KNS của người học.”
    Như vậy, việc giáo dục kĩ năng sống (KNS) cho HS đang trở thành một yêu cầu bức thiết đối với toàn xã hội. Thực tế hiện nay cho thấy, HS phổ thông đang thiếu kĩ năng sống trầm trọng, điều đó dẫn đến những vấn đề nóng của môi trường học đường, đồng thời là một trong những nguyên nhân cơ bản làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội: bạo lực học đường, lệch lạc về nhân cách, đạo đức, lối sống tiêu cực, phạm tội ở tuổi vị thành niên…
    Vậy, làm sao để hình thành khối kĩ năng chiếm 85% sự thành công của một con người? Có thể nói đây không chỉ là một câu hỏi, mà là cả một “yêu cầu bắt buộc trong chương trình đào tạo của hệ thống Giáo dục Quốc dân”. Vì vậy, việc định hướng, bồi đắp KNS cho các em là vô cùng quan trọng, và rõ ràng đó là công việc nặng nề đặt lên vai những nhà giáo dục nói chung và giáo viên chủ nhiệm lớp nói riêng.
    Vừa qua, Chương trình phát triển Giáo dục Trung học của Vụ Giáo dục Trung học – Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức chương trình tập huấn CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM gồm 7 chuyên đề, trong đó chuyên đề TỔ CHỨC GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH được coi là trọng tâm.
    B. NỘI DUNG:
    I. Phần nhận định chung:
    1. Kĩ năng sống là gì?
    Hiện nay có khá nhiều khái niệm về KNS, tuỳ từng góc nhìn khác nhau người ta có những khái niệm về KNS khác nhau, chẳng hạn:
    - Theo Tổ chức Văn hoá, khoa học và giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO): KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày – đó là những kĩ năng cơ bản như kĩ năng đọc, viết, làm tính, giao tiếp ứng xử, giới thiệu bản thân, thuyết trình trước đám đông, làm việc nhóm, khám phá những thay đổi của bản thân, tư duy hiệu quả…
    - Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): KNS là những kĩ năng thiết thực mà con người cần để có cuộc sống an toàn, khoẻ mạnh. Đó là những kĩ năng mang tính tâm lí xã hội và kĩ năng giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác một cách có hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày.
    - Theo thuyết hành vi: KNS là những kĩ năng tâm lí xã hội liên quan đến những tri thức, những giá trị và những thái độ - là những hành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống.
    - Theo PGS. TS Nguyễn Thanh Bình – Viện NCSP – Trường ĐHSP Hà Nội: Kĩ năng sống là năng lực, khả năng tâm lý - xã hội của con người có thể ứng phó với những thách thức trong cuộc sống, giải quyết các tình huống một cách tích cực và giao tiếp có hiệu quả.
    Cũng cần hiểu rộng hơn: Kĩ năng sống (KNS) không phải là năng lực cá nhân bất biến trong mọi thời đại, mà là những năng lực thích nghi cho mỗi thời đại mà cá nhân đó sống. Bởi vậy, KNS vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính dân tộc – quốc gia, vừa mang tính xã hội – toàn cầu. Từ những khái niệm trên, KNS trong phạm vi lứa tuổi học sinh THCS thường gắn liền với phạm trù kiến thức, kĩ năng và thái độ mà học sinh được rèn luyện trong quá trình giáo dục. Tổng hợp kết quả giáo dục từ bài học trên lớp và từ những hoạt động Giáo dục ngoài giờ lên lớp, học sinh hình thành được một số kĩ năng sống phù hợp như: Kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng kiên định, kĩ năng đặt mục tiêu,… Những kĩ năng này bao giờ cũng gắn với một nội dung giáo dục nhất định như: giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục lòng nhân ái, giáo dục truyền thống tôn sư trọng đạo, uống nước nhớ nguồn, giáo dục sống an toàn, khoẻ mạnh…
    2. Khái niệm giáo dục kĩ năng sống:
    Giáo dục KNS là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp HS có thái độ, kiến thức, kĩ năng, giá trị cá nhân thích hợp với thực tế xã hội. Mục tiêu cơ bản của giáo dục KNS là làm thay đổi hành vi của HS, chuyển từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, dẫn đến hậu quả tiêu cực thành những hành vi mang tính xây dựng tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển xã hội bền vững.
    3. Kĩ năng sống được phân loại như thế nào?

    3.1. Cách phân loại thứ nhất: Thông thường, người ta phân loại KNS thành những kĩ năng chung và những kĩ năng chuyên biệt (kĩ năng trong các lĩnh vực cụ thể). Trong đó có:
    a. Nhóm kĩ năng chung: bao gồm:
    - Kĩ năng nhận thức: gồm những kĩ năng cụ thể như: tư duy phê phán, giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả, ra quyết định, khả năng sáng tạo, tự nhận thức về bản thân, đặt mục tiêu, xác định giá trị…
    - Kĩ năng đương đầu với xúc cảm, gồm: động cơ, ý thức trách nhiệm, cam kết, kiềm chế căng thẳng, kiểm soát được cảm xúc, tự quản lí, tự giám sát và tự điều chỉnh…
    - Kĩ năng xã hội hay kĩ năng tương tác, gồm: kĩ năng giao tiếp, tính quyết đoán, kĩ năng thương thuyết hay từ chối, lắng nghe tích cực, hợp tác, sự thông cảm, nhận biết sự thiện cảm của người khác…
    b. Nhóm kĩ năng chuyên biệt:
    Ngoài những KNS chung như đã nêu trên, KNS còn thể hiện trong những vấn đề cụ thể khác nhau trong đời sống xã hội như: các vấn đề về giới tính, sức khoẻ sinh sản; vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh sức khoẻ, vệ sinh dinh dưỡng; ngăn ngừa và chăm sóc người bệnh HIV/AIDS; vấn đề sử dụng rượu, thuốc lá, ma tuý; ngăn ngừa thiên tai, bạo lực và rủi ro; đề phòng tai nạn thương tích; hoà bình và giải quyết xung đột; gia đình và cộng đồng; giáo dục công dân; bảo vệ thiên nhiên và môi trường; văn hoá; ngôn ngữ; công nghệ… Điều đó có nghĩa là bên cạnh những KNS chung thì còn có những KNS riêng trong từng lĩnh vực của con người.
    3.2. Cách phân loại thứ hai: Theo cách này, KNS được chia làm ba loại chính là:
    a. Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với chính mình:
    - Kĩ năng tự nhận thức: Các em cần nhận biết và hiểu rõ bản thân về những tiềm năng, tình cảm, những mặt mạnh, mặt yếu của mình, cũng như vị trí của mình trong cộng đồng. Càng nhận thức được khả năng của mình bao nhiêu, các em càng có khả năng sử dụng các KNS khác hiệu quả và lựa chọn những gì phù hợp với các điều kiện sẵn có của bản thân, của xã hội bấy nhiêu.
    - Lòng tự trọng: Sự tự nhận thức đưa đến sự tự trọng. Nó thể hiện qua việc con người nhận thức được những điều tốt đẹp – những giá trị của bản thân và kiên định giữ gìn những giá trị đó trong các tình huống phải lựa chọn giá trị.
    - Sự kiên quyết: Có nghĩa là nhận biết được những gì bản thân muốn và tại sao muốn, và tiến hành những bước cần thiết để đạt được những điều đó trong những hoàn cảnh cụ thể.
    - Đương đầu với cảm xúc: Trong cuộc sống, con người vẫn thường trải nghiệm những cảm xúc như: sợ hãi, yêu thương, phẫn nộ, e thẹn và mong muốn được thừa nhận… mang tính chủ quan và con người thường có những hành động, phản ứng để đáp ứng một cách tức thời với những tình huống đó mà không dựa trên suy luận logíc. Do vậy, cảm xúc dễ đưa con người đến những hành vi mà sau này có thể phải hối tiếc. Việc nhận thức được cảm xúc của mình và nguyên nhân của chúng để sau đó có những quyết định mà không bị cảm xúc chi phối, dù vẫn phải tính đến nó, chính là kĩ năng đối phó hay còn gọi là kĩ năng đương đầu với cảm xúc.
    - Đương đầu với căng thẳng: Cuộc sống luôn có những biến động gây căng thẳng cho mỗi cá nhân như bất hoà trong gia đình, mất người thân, căng thẳng trong thi cử…sự căng thẳng sẽ là nhân tố tích cực nếu cá nhân có khả năng nhận biết nguyên nhân, hậu quả và cách khắc phục nó. Ngược lại sự căng thẳng sẽ huỷ diệt cuộc sống cá nhân nếu nó quá lớn và không giải toả được nó.
    b. Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với người khác:
    - Quan hệ (tương tác liên nhân cách): Mỗi học sinh biết cách đối xử phù hợp với từng đối tượng cụ thể để phát triển tối đa những tiềm năng tốt đẹp trong các mối quan hệ đó.
    - Cảm thông: Học sinh biết đặt mình vào vị trí người khác đặc biệt là khi phải đương đầu với những vấn đề nghiêm trọng (do hoàn cảnh hoặc do chính mình gây ra). Cảm thông cũng đồng nghĩa với việc hỗ trợ người khác để họ tự quyết định và đứng vững trên đôi chân của mình.
    - Đứng vững trước sự lôi kéo của bạn bè, người khác: Các em biết bảo vệ những giá và trị niềm tin của bản thân nếu phải đương đầu với những ý nghĩ hoặc việc làm trái ngược của người khác.
    - Thương lượng: Là kĩ năng quan trọng trong quan hệ cá nhân với nhau, liên quan đến tính kiên định, khả năng thoả hiệp, khả năng đương đầu với những hoàn cảnh đe doạ hoặc tiềm ẩn rủi ro (bị bạn bè rủ trốn học, làm việc sai trái, trêu chọc bạn bè thái quá).
    - Giao tiếp có hiệu quả: Đây là một trong những KNS quan trọng nhất. Biết lắng nghe (tiếp nhận, chắt lọc thông tin) và hiểu được người khác (nhận thức được vấn đề họ cần) sẽ giúp con người nhanh chóng đạt được hiệu quả công việc.
    c. Nhóm kĩ năng ra quyết định một cách hiệu quả:
    - Tư duy phê phán: Trong thực tế, học sinh phải đối đầu với nhiều vấn đề, phải xử lý nhiều thông tin phức tạp…các em cần có khả năng phân tích và chọn lọc thông tin để có những quyết định phù hợp.
    - Tư duy sáng tạo: Là khả năng đáp ứng phù hợp khi học sinh tiếp cận với các phương thức mới, ý tưởng mới, cách sắp xếp và tổ chức mới.
    - Ra quyết định: Đây là kĩ năng quan trọng nhất bởi hàng ngày học sinh có nhiều quyết định, từ những quyết định đơn giản đến những quyết định nghiêm túc liên quan đến các mối quan hệ, tương lai cuộc đời…nên các em cần có những quyết định đúng, nên và không nên làm việc gì để bảo vệ bản thân và cộng đồng, lường được những vấn đề nảy sinh trước mỗi quyết định và có kế hoạch làm việc để hiện thực hoá quyết định.
    - Giải quyết vấn đề: Kĩ năng này lại liên quan tới tất cả các kĩ năng trên, chỉ qua việc thực hành quyết định và giải quyết vấn đề thì trẻ em và thanh thiếu niên mới có thể xây dựng được những kĩ năng cần thiết để có thể có những lựa chọn tốt nhất trong bất kì hoàn cảnh nào mà chúng phải đương đầu.
    3.3. Cách phân loại thứ ba: Từ cách nhìn của các nhà giáo dục không chính quy, quan niệm về KNS bao gồm:
    - Các kĩ năng cơ bản: Đó là: biết đọc, biết viết, biết làm tính và biết cách sử dụng kĩ năng này cho các chức năng sinh hoạt, học tập hàng ngày.
    - Các kĩ năng chung: Đó là: kĩ năng giải quyết vấn đề; kĩ năng tư duy phê phán; kĩ năng làm việc nhóm; kĩ năng thương lượng; kĩ năng giao tiếp…(đã nêu trên)
    - Các kĩ năng trong những tình huống, ngữ cảnh cụ thể: Đó là các vấn đề của đời sống xã hội như: tạo ra thu nhập, sức khoẻ, giới tính, gia đình, môi trường…
    Tóm lại: Dù đứng ở góc độ nào để phân loại thì chúng ta cũng cần nắm vững ba quan điểm này trong thể thống nhất của chúng. Trong thực tế các KNS không hoàn toàn tách rời nhau. Cuộc sống luôn đặt mỗi cá nhân trước những tình huống, hoàn cảnh bất ngờ không bình thường, nên khi cần quyết định vấn đề một cách hiệu quả thì nhiều kĩ năng được huy động đan xen, hoà trộn nhau để vận dụng. Vì vậy, trong chuyên đề này, chúng tôi không tiến hành phân loại một cách rạch ròi từng KNS mà chỉ cùng các thầy cô nhận diện các nhóm KNS để áp dụng vào thực tế của đơn vị giúp học sinh của chúng ta tích luỹ vốn sống, hoàn thiện nhân cách trong quá trình giáo dục.
    Phiếu học tập số 1:
    1. Các thầy, cô hãy kể một vài sự việc cụ thể trong quá trình giáo dục học sinh và cách giải quyết của thầy, cô?
    2. Phân tích những biểu hiện của kĩ năng sống trong câu chuyện Ba người bạn:
    Trung, Hiếu, Nghĩa chơi thân với nhau từ nhỏ. Một hôm Trung đến nhà Hiếu và nói rằng cần sự giúp đỡ của Hiếu để dạy cho bọn ấp bên một bài học vì hôm qua Trung đi qua đó đã bị họ gây chuyện.
    Khi nghe điều đó, Hiếu thấy hơi choáng và giải thích rằng cậu không muốn đi. Trung trở nên tức giận quát Hiếu và còn nói rằng nếu cậu không đi cùng thì tình bạn giữa họ sẽ chấm hết. Hiếu vừa sợ lại vừa bị tổn thương vì những điều Trung nói, nên cuối cùng cậu đã đồng ý đi.
    Sau đó, Trung lại đến rủ Nghĩa để lực lượng thêm hùng hậu. Nhưng Nghĩa đã bình tĩnh giải thích rằng cậu cảm thấy bất tiện nếu tham gia vào cuộc chiến đó. Nghĩa còn nói với Trung: đánh nhau chỉ làm cho tình thế tồi tệ hơn sao không nói chuyện với nhau để giải quyết vấn đề. Sau đó, Nghĩa còn hỏi Trung có hiểu vì sao cậu đề nghị như vậy không? Trung nghĩ một lúc, nhưng vẫn không thay đổi ý định đi đánh nhau với con trai ấp bên.
    Nghĩa đành nói với Trung rằng: Rất tiếc, dù không muốn làm mếch lòng cậu, nhưng mình buộc lòng phải từ chối lời đề nghị của cậu.
    4. Vì sao cần phải giáo dục kĩ năng sống cho học sinh?
    Chúng ta đều biết: cuộc sống luôn tạo ra những khó khăn để cho con người vượt qua, những mất mát để con người biết yêu quý những gì đang có. Vì vậy, mỗi con người cần có những kỹ năng nhất định để tồn tại và phát triển. Là những nhà giáo dục, những người luôn đồng hành với quá trình phát triển của HS, chúng ta càng thấy rõ sự cần thiết giáo dục KNS cho HS. Bởi giáo dục KNS chính là định hướng cho các em những con đường sống tích cực trong xã hội hiện đại trong ba mối quan hệ cơ bản: con người với chính mình; con người với tự nhiên; con người với các mối quan hệ xã hội. Nắm được KNS, các em sẽ biết chuyển dịch kiến thức – “cái mình biết” và thái độ, giá trị - “cái mình nghĩ, cảm thấy, tin tưởng”…thành những hành động cụ thể trong thực tế - “làm gì và làm cách nào” là tích cực và mang tính chất xây dựng. Tất cả đều nhằm giúp các em thích ứng được với sự phát triển nhanh như vũ bão của khoa học công nghệ và vững vàng, tự tin bước tới tương lai. Cụ thể là:
    - Trong quan hệ với chính mình: Giáo dục KNS giúp HS biết gieo những kiến thức vào thực tế để gặt hái những hành động cụ thể và biến hành động thành thói quen, rồi lại gieo những thói quen tích cực để tạo ra số phận cho mình.
    - Trong quan hệ với gia đình: Giáo dục KNS giúp HS biết kính trọng ông bà, hiếu thảo với cha mẹ, quan tâm chăm sóc người thân khi ốm đau, động viên, an ủi nhau khi gia quyến có chuyện chẳng lành…
    - Trong quan hệ với xã hội: Giáo dục KNS giúp HS biết cách ứng xử thân thiện với môi trường tự nhiên, với cộng đồng như: có ý thức giữ gìn trật tự an toàn giao thông; giữ vệ sinh đường làng, ngõ phố; bảo vệ môi trường thiên nhiên…Từ đó, góp phần làm cho môi trường sống trong sạch, lành mạnh, bớt đi những tệ nạn xã hội, những bệnh tật do sự thiếu hiểu biết của chính con người gây nên; góp phần thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực để hài hoà mối quan hệ giữa nhu cầu – quyền lợi – nghĩa vụ trong cộng đồng.
    Do những ý nghĩa đặc biệt nêu trên, việc giáo dục hình thành nhân cách cho HS nói chung và đối với giáo dục KNS nói riêng ngày càng trở nên quan trọng và cấp thiết hơn.
    Phiếu học tập số 2: Các thầy, cô hãy nêu cách giải quyết mang tích cực có tác dụng giáo dục KNS cho học sinh qua tình huống sau:
    Trong giờ nghỉ, một nhóm HS lớp lớn đến lớp chủ nhiệm của thầy, cô dùng lời lẽ thô tục xúc phạm đến các em HS. Không khí rất căng thẳng và có nguy cơ diễn biến theo chiều hướng xấu.
    II. GVCN với công tác giáo dục kĩ năng sống cho học sinh:
    1. Những con đường giáo viên chủ nhiệm tiến hành giáo dục kĩ năng sống cho học sinh:
    Phiếu học tập số 3:
    1. Với nhiệm vụ, quyền hạn của một GVCN các thầy cô có những con đường nào để giáo dục kĩ năng sống cho HS.
    2. Từ tình huống sau đây: Anh trai của Nguyên là công nhân xây dựng thường đi xa nhà. Tuần trước anh về thăm nhà, anh khen Nguyên lớn nhanh quá và còn chăm ngoan nữa, nên anh thưởng cho Nguyên mấy điếu thuốc lá. Chưa hút bao giờ nhưng nể anh, Nguyên hút thử, lúc đầu cậu bị sặc, rất khó chịu, nhưng rồi chẳng mấy chốc Nguyên thấy có nhiều cảm giác rất thích thú. Nguyên nghĩ đến cậu bạn thân là Hiển, liền chạy đến nói với Hiển là mình đã tập hút thuốc lá rồi và cố rủ Hiển cùng tập hút cho sành điệu.
    Quý thầy cô hãy trình bày cách tổ chức tình huống trên thành một chủ đề giáo dục KNS cho HS.
    II. GVCN với công tác giáo dục kĩ năng sống cho học sinh:

    1. Những con đường giáo viên chủ nhiệm tiến hành giáo dục kĩ năng sống cho học sinh:
    1.1. Giáo dục KNS chuyên biệt thông qua hoạt động NGLL:
    Mục tiêu của giáo dục KNS là nhằm giúp người học thay đổi cách ứng xử của mình theo hướng tích cực, hiệu quả. Chỉ có cách học dựa trên tự khám phá bản thân hoặc tự lĩnh hội thì mới giúp con người thay đổi căn bản hành vi của mình. HĐ NGLL có ưu thế là thời gian thoải mái hơn nên vận dụng giáo dục trải nghiệm thuận lợi hơn.
    Hiện nay trong các trường THCS tổ chức Đội TNTP Hồ Chí Minh thường có các hoạt động chủ đề như: thi An toàn giao thông, tìm hiểu về tác hại của ma tuý, vấn đề môi trường sống…đó chính là các chủ đề chuyên biệt. Tuy nhiên, giáo viên cần phối hợp để thiết kế nội dung chủ đề có tác dụng giáo dục KNS.
    Bản chất của giáo dục KNS chính là sự trải nghiệm. Khi thiết kế chủ đề và tổ chức thực hiện giáo viên cần quan tâm khai thác kiến thức, kinh nghiệm và kĩ năng đã có của HS, tạo điều kiện cho HS trải nghiệm. Hoạt động giáo dục NGLL làm cho cuộc sống học tập ở nhà trường trở nên thân thiện. Ở đó, giáo viên và HS gần gũi, giao tiếp cởi mở hơn, tình cảm bạn bè được biểu lộ thoải mái chan hoà. Qua các hoạt động cụ thể, HS tiếp nhận được những kĩ năng: tự nhận thức, giao tiếp, chia sẻ cảm thông, hợp tác, ra quyết định…Đây chính là môi trường để các em thực hành và tăng cường những kĩ năng tâm lí xã hội của bản thân.
    1.2. Giáo dục KNS thông qua giờ sinh hoạt lớp:
    Giờ sinh hoạt lớp là một dạng hoạt động giáo dục tập thể. Trong giờ học đó, giáo viên chủ nhiệm có thể thiết kế các chủ đề giáo dục KNS và lồng ghép trong các hoạt động. Từ đó giúp HS tăng cường hiểu biết, giúp đỡ nhau, khắc phục những hành vi tiêu cực, hình thành những KNS tích cực làm cho tập thể lớp gắn bó, đoàn kết.

    1.3. Giáo dục KNS thông qua tham vấn:
    Sau khi được giáo dục KNS theo những con đường trên bao giờ cũng còn một vài em (khoảng từ 5 – 10%) các em vẫn có những hành vi không mong đợi. Khi đó cần sử dụng cách tiếp cận cá nhân thông qua hoạt động tham vấn. Trong tham vấn để giáo dục KNS, tức là để HS thay đổi hành vi theo hướng tích cực, nhà tham vấn thường sử dụng mô hình nhận thức hành vi để HS thay đổi niềm tin sai lệch dẫn đến hành vi tiêu cực.
    1.4. Giáo dục KNS thông qua các hoạt động ngoại khoá:
    Mỗi năm học, tuỳ hoàn cảnh của nhà trường, của địa phương, HS thường được tham gia các hoạt động giã ngoại như: tham quan di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hoá, hội trại, hoạt động Thể dục thể thao…Các hoạt động đó cũng chính là các môi trường để giúp HS trải nghiệm những KNS đã tiếp thu được.

    1.5. Giáo dục KNS thông qua giảng dạy các môn học tiềm năng:
    Thực tế, việc giáo dục KNS ở bậc học THCS cho tới nay chưa thể thành một môn học chính khoá. Giáo viên chủ nhiệm lớp đồng thời cũng là giáo viên bộ môn. Vì vậy, đối với các môn học tiềm năng như GDCD, Sinh học, Hoá học, Vật lý…qua hình thức và phương pháp tổ chức dạy học hợp tác qua làm việc theo nhóm chúng ta cũng có thể giúp HS phát triển được các kĩ năng: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, tự nhận thức.
    2. Các nguyên tắc giáo viên chủ nhiệm cần tuân thủ khi tiến hành giáo dục kĩ năng sống cho học sinh:
    - Tạo cơ hội cho học sinh qua trải nghiệm.
    - Cung cấp kiến thức vừa đủ, tránh mang tính hàn lâm.
    - Tập trung vào những thông điệp tích cực, (hạn chế sử dụng những thông điệp mang tính đe doạ) để động viên sự thay đổi hành vi.
    - Triển khai theo nhóm nhỏ, nhưng cần cho các em đủ thời gian để trải nghiệm và củng cố hành vi.
    - Khuyến khích tư duy phê phán trong các tình huống lựa chọn.
    - Phối hợp với gia đình, cộng đồng để tạo ra môi trường giáo dục khuyến khích sự thay đổi hành vi tiêu cực, rủi ro.
    - Phòng ngừa sự lặp lại thói quen cũ.
    3. Các phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh:
    Trong môi trường giáo dục, việc lồng ghép giáo dục KNS cho HS được sử dụng bằng nhiều phương pháp. Căn cứ vào các điều kiện cụ thể như: thời gian, đối tượng HS, đặc điểm địa phương có thể vận dụng các phương pháp sau:
    - Phương pháp thảo luận nhóm.
    - Phương pháp đóng vai.
    - Phương pháp giải quyết vấn đề:
    + Tạo tình huống có vấn đề (giúp HS nhận biết vấn đề)
    + Lập kế hoạch giải quyết (tìm các phương án giải quyết)
    + Thực hiện kế hoạch (quyết định phương án giải quyết)
    + Vận dụng (vận dụng cách giải quyết các tình huống khác)
    - Phương pháp tình huống.
    - Phương pháp trò chơi.
    - Phương pháp giao nhiệm vụ.
    - Phương pháp tổ chức hoạt động giao lưu.
    - Phương pháp diễn đàn: thực hiện theo các bước sau đây:
    + Chuẩn bị: định hướng chủ đề và gợi ý cách thức tiến hành.
    + Tổ chức diễn đàn: nên khuyến khích HS tham gia một cách có hiệu quả và kết thúc bằng một thông điệp có giá trị.
    + Đánh giá kết quả: bằng nhận xét của người chủ trì diễn đàn hoặc lời phát biểu cảm tưởng của đại diện HS.
    - Phương pháp động não: Tiến hành như sau:
    + Nêu vấn đề hoặc câu hỏi mở (có nhiều cách trả lời).
    + Kích thích tư duy: gợi ra các hướng và khích lệ nhiều HS tham gia trả lời (bằng các câu ngắn). Giáo viên hoan nghênh tất cả các câu trả lời không nhận xét, chê trách gì).
    + Thảo luận: Phân loại, chọn lựa ý kiến làm sáng tỏ vấn đề, giáo viên chốt lại kết quả và nhấn mạnh đây là thành quả chung của cả lớp.
    Trong khi thiết kế các chủ đề giáo dục KNS, giáo viên linh hoạt và khéo léo lựa chọn các phương pháp phù hợp với các điều kiện thực tế. Ngoài ra cần kết hợp với các yếu tố khác để mang lại kết quả như mong muốn.
    III. Thiết kế, tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng sống:
    1. Những việc cần làm khi thiết kế các chủ đề giáo dục KNS:
    1.1 Đối với giáo viên:
    - Bước 1: Xác định mục tiêu nội dung của chủ đề và phương tiện cần có để tổ chức và thiết kế các hoạt động.
    - Bước 2: Giúp HS hiểu được KNS đó là gì.
    + Hướng vào khai thác kinh nghiệm của học sinh để xử lí vấn đề đặt ra.
    + Phản hồi, chia sẻ những cách xử lí theo thói quen, kinh nghiệm cũ của HS.
    - Bước 3: Tập trung làm cho HS hiểu rõ KNS này là gì và các bước thực hiện kĩ năng đó: Tiếp thu, lĩnh hội kĩ năng, cách ứng xử mới thông qua hoạt động nhóm.
    - Bước 4: Tạo tình huống, cơ hội để HS vận dụng KNS.
    1.2. Đối với học sinh:
    - HS nắm được mục tiêu của hoạt động để định hướng cho hoạt động, có nhu cầu và động cơ học tập.
    - Đặt mình vào những tình huống cụ thể, tư duy để đưa ra ý kiến của mình về vấn đề đã có chút ít kinh nghiệm, hiểu biết hoặc một vấn đề mới trên cơ sở được cung cấp một số thông tin cơ bản, cần thiết.
    - Trải nghiệm qua việc thực hành vận dụng các KNS đã học để cách giải quyết các tình huống tương tự.
    2. Thiết kế các chủ đề giáo dục KNS:
    2.1. Thiết kế chủ đề giáo dục kĩ năng Kiên định trong giải quyết tình huống mang tính tích cực:
    Trong cuộc sống hàng ngày, HS luôn phải đối diện với nhiều tình huống ngặt nghèo cần vận dụng kĩ năng kiên định để bảo vệ cuộc sống của bản than và gia đình như:
    - Kiên định trước sự lôi kéo của bạn thân.
    - Kiên định trước rủi ro.
    - Kiên định trước văn hoá phẩm độc hại.
    - Kiên định trước sự thuyết phục quan hệ tình dục.
    Kiên định là KNS thuộc nhóm nhận biết và sống với người khác. Kĩ năng kiên định là khả năng con người nhận biết được những mình muốn/ hay không muốn, tại sao muốn/ hay không muốn và khả năng tiến hành các bước cần thiết để đạt được những gì mình muốn trong những hoàn cảnh cụ thể và luôn dung hoà được giữa quyền và nhu cầu của mình với quyền và nhu cầu của người khác.
    Phiếu học tập số 4: Quý thầy cô tổ chức hai tiểu phẩm với các tình huống sau:
    1. Anh Lợi là một người hàng xóm mà Lộc rất tin tưởng. Đồng thời, Lợi cũng rất quý Lộc và thường hay cho cậu những món quà mà Lộc rất thích. Hôm nay, anh Lợi gọi Lộc sang, tặng cậu một chiếc máy ảnh du lịch và nhờ cậu đưa một gói đồ sang xã bên cho một người khác. Lợi rất nghi ngại và nghĩ rằng gói đồ đó không bình thường…
    2. An và Bình đi qua lớp học của Đức, đúng lúc đó, Đức lại nhìn ra ngoài hành lang. An cho rằng Đức nhìn đểu mình và xông ra gây sự với Đức. Bình sẽ làm gì để ngăn chặn xô xát?
    Như vậy, kĩ năng kiên định đã được hình thành qua các bước:
    - Nhận thức được cảm xúc, xuất hiện cảm xúc.
    - Tư duy phân tích, tư duy phê phán, xác định hành vi của người giao tiếp với mình.
    - Khẳng định ý muốn của bản thân.
    - Thực hiện hành động cần làm hoặc điều cần nói:
    + Nói bằng cảm nhận của trái tim. Nếu người đó không dừng thì:
    + Nói bằng sự phân tích của tư duy, lí trí: cái đúng, cái sai, cái phù hợp, cái vô lí…Nếu người đó vẫn không dừng thì:
    + Buộc lòng phải chân thành, lịch sự từ chối.
    Những KNS được sử dụng để kiên định trước tình huống:
    - Kĩ năng giao tiếp khi thảo luận nhóm.
    - Kĩ năng tư duy phê phán, tư duy sáng tạo khi phân tích tình huống.
    - Kĩ năng ra quyết định, giải quyết vấn đề khi giải quyết các tình huống.
    - Kĩ năng kiên định khi lựa chọn cách giải quyết các tình huống.
    2.2. Thiết kế chủ đề giáo dục kĩ năng giải quyết mâu thuẫn trong tập thể lớp mang tính tích cực:
    Trước những mâu thuẫn hàng ngày xảy ra giữa HS với nhau, bản thân mỗi giáo viên luôn có những cách xử lí khác nhau. Nhìn chung, hầu hết giáo viên do không có thời gian nên phần nhiều là giải quyết chiếu lệ, mang tính áp đặt, cảm tính và thể hiện rõ dấu ấn cá nhân về phong cách của chính giáo viên đó (người nhu hoà thì ngọt ngào khuyên bảo, người nóng nảy thì la mắng, đe doạ…). Cách giải quyết đó không triệt để và thường dẫn đến những mâu thuẫn dai dẳng và đó không phải là phương pháp giáo dục KNS. Chính vì vậy, đều cần thiết hiện nay là giáo viên phải có cách giải quyết mâu thuẫn trong tập thể lớp mang tính tích cực.
    Sau đây là các bước tiến hành:
    - Bước 1: Giáo viên cần phải ứng xử phù hợp với chính mình (không bị chi phối bởi cảm xúc chủ quan).
    - Bước 2: Giáo viên cần tuân thủ các nguyên tắc:
    + Tập trung vào vấn đề, thiện chí, không kích động.
    + Công bằng, khách quan, không áp đặt.
    - Bước 3: Giáo viên tiến hành:
    + Lắng nghe để tìm hiểu nguyên nhân.
    + Đặt mình vào vị trí các em để tìm hiểu cảm xúc.
    + Tìm hiểu mong muốn và khuyến khích các em tự đề xuất cách giải quyết.
    + Giúp HS thấu hiểu cảm xúc của bạn và tạo điều kiện cho các em xích lại gần nhau.
    + Cam kết thực hiện.
    - Bước 4: Qua giải quyết mâu thuẫn, giúp các em nhận ra những KNS cần thiết:
    + Lắng nghe tích cực
    + Kiểm soát được cảm xúc
    + Giải quyết mâu thuẫn một cách thiện chí.
    Hoàn thành những điều đó tức là các thầy, cô đã làm tăng nội lực xã hội cho HS của chúng ta.
    CHÂN THÀNH CẢM ƠN QUÝ THẦY CÔ ĐÃ CHÚ Ý LẮNG NGHE.
    KÍNH CHÚC QUÝ THẦY CÔ MẠNH KHỎE CÔNG TÁC TỐT!
     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓


    Chào mừng quý vị đến với Thư viện của trường THCS Quảng Ngãi

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI